Sơn tường, sơn nhà, thi công sơn, bê tông

Lí thuyết về sự rắn chác của xi măng, bê tông tươi

Laptop cũ giá mềm tại tphcm / http://khosimtoanquoc.vn/p/chon-sim-phong-thuy-theo-tuoi

Lí thuyết rán chác của ximăng pooclăng được phát triển trên cơ sở những công trình của Lơ Satalie (Le Shatalie), Mikhaơlix, Baykov, Rebinder và nhiéu nhà bác học khác.
Ximăng sau khi nhào trộn với nước làm bê tông tươi trải qua 3 giai đoạn rán chắc. Đầu tiên trong khoảng 1-3 giờ sau khi nhào trộn ntí dẻo và dễ tạo hình. Sau đđ nó bát đầu ninh kết. Hỗn hợp đậc sệt dần lại và mất dần tính dẻo nhưng cường độ không lớn Giai đoạn này kết thúc trong 5-10 giờ sau khi nhào trộn Sau đó hỗn hợp chuyển từ trạng thái đặc sệt sang trạng thái rắn chác, có nghỉa là kết thúc ninh kết và bát đẩu rán chắc. Giai đoạn rán chắc đặc trưng bằng sự tăng nhanh cường độ.
Phản ứng thủy hóa
Khi nhào trộn ximăng vối nước ở giai đoạn đầu xảy ra quá trình tác dụng nhanh của alit với nước tạo ra hyđrosilicat canxi và hyđroxit canxi.
2(3Ca0.Si02) + 6H20 = 3Ca0.2Si02. 3H20 + 3Ca(OH)2
Vì đã có hyđroxit canxi tách ra từ alit nên belit thủy hdn chậm hơn alit và tách ra ít Ca(OH)2 hơn :
2(2Ca0.Si02) + 4H20 = 3Ca0.2Si02- 3H20 + Ca(OH)2
Hyđrosilicat canxi hinh thành khi thủy hóa hoàn toàn đơn khoáng silicat tricanxi ở trạng thái cân bằng với dung dịch bao hòa hyđroxit canxi. Tỉ lệ Ca0/Si02 trong các hyđrosilicat tronn hồ ximăng có thể thay đổi phụ thuộc vào thành phẩn vật liệu, điều kiện rắn chắc và các yếu tố khác. Pha chứa alumô chù yếu trong ximâng là aluminat tricanxi 3CaO.Al203 pha hoạt động nhất. Ngay sau khi trộn với nước trên bể mặt các hi,»t ximảng đã ctí lớp sản phẩm xốp, không bền, có tinh thể dạnK tấm mỏng lục giác của 4CaO.Al203.9H20 và 2CaO.Al203.8H20 Cấu trúc dạng tơi xốp này làm giảm độ bền nước của ximăng Dạng ổn định, sản phẩm phản ứng nhanh với nước của nd Irt hyđroaluminat 6 nước có tinh thể hình lập phương (3CaO.Al-,l), ,6H20) : 3Ca0.Al203 + 6H20 = 3CaO.Al2O3.6H2O
Để làm chậm quá trình ninh kết khi nghiền clinke cần cho thêm một lượng đá thạch cao (3 – 5% so với khối lượng ximăng). Sunphat canxi, đóng vai trò là chất hoạt động hđa học của ximăng, tác dụng với aluminat tricanxi ngay từ đầu để tạo thành sunphoaluminat canxi ngậm nước (khoáng etringit) :
Thach cao
aCaO-Aụìị + 3(CaS04 mpy + 26H20 =3Ca0Al203.3CaS04.32H20
ximăng pooclăng e*tri ngũ *
Trong dung dịch bão hòa Ca(OH)2 ngay từ đầu etringit sẽ tách ra ở dạng keo phân tán mịn đọng lại trên bể mặt 3CaO.Al203 làm chậm sự thủy hđa của nó và kéo dài thời gian ninh kết của ximăng. Sự kết tinh của Ca(OH)2 từ dung dịch quá bão hòa sẽ làm giảm nồng độ hyđroxit canxi trong dung dịch và etringit chuyển sang tinh thể dạng sợi, tạo ra cường độ ban đầu cho ximãng. Etringit có thể tích lớn gấp 2 lần so với thể tích các chất tham gia phản ứng, có tác dụng chèn lấp lỗ rỗng của đá ximăng, làm cường độ và độ ổn định của đá
ximăng tảng lên. Cấu trúc của đá ximăng cũng sẽ tốt hơn do
hạn chế được những chỗ yếu của hyđroaluminat canxi. Sau đó
etringit còn tác dụng với 3CaO.AI203 còn lại sau khi đã tác
dụng với thạch cao để tạo ra muối kép một sunphat :
2(3Ca0.Al203) + 3Ca0.Al203.3CaS04.32H20 + 22H20 = = 3(3Ca0.^203.CaS04.18H20)
Feroaluminat tetracanxi tác dụng với nước tạo ra hyđroaluminat và hydroferit canxi :
4Ca0.Al20,.Fe70, + mH,0 = 3Ca0.Al70v6H70 +
CaO.Fe2O3.nH2O
Hydroferit sẽ nầm lại trong thành phẩn của gen ximãng, còn hyđroaluminat sẽ lại tác dụng với thạch cao như phản úng trên.